KỶ NIỆM 63 NĂM CHIẾN THẮNG ĐIỆN BIÊN PHỦ

KỶ NIỆM 63 NĂM CHIẾN THẮNG ĐIỆN BIÊN PHỦ
KỲ III: “KHÔNG CỜ TRẮNG”
1- Cắt đứt cái “yết hầu” của Điện Biên Phủ:
Sau khi chiến dịch mở màn được 2 ngày, đến lượt “nàng Gabrielle” (Cụm cứ điểm đồi Độc Lập) chịu chung số phận với Cụm cứ điểm Béatrice. Chiều 16-3, có tin Việt Minh sắp tiến đánh cụm cứ điểm Anne Marie. Sáng sớm ngày 17-3-1954, một tin đồn khủng khiếp lan nhanh như điện khắp căn cứ: Việt Minh chuẩn bị giáng xuống Anne Marie khoảng 2.000 quả đạn pháo. Cả căn cứ xao động. Riêng ba đại đội lính Thái bản xứ thuộc Tiểu đoàn lính Thái số 3 (3 BT) đóng tại các ngọn đồi 104A, 104B và Bản Kéo thì tinh thần của họ đã xuống đến mắt cá chân.
Không ai bảo ai, hai trong ba đại đội lính Thái ở 104A và 104B nhất loạt bỏ chạy vào rừng. Viên thiếu tá nguời Pháp Leopold Thimonnier cố sức ngăn cản, bắn chỉ thiên để dọa, sau đó bắn thẳng vào lưng họ nhưng số lính Thái vẫn cố sống cố chết bỏ chạy. Xế chiều ngày 17-3, đến lượt thiếu tá Leopold Thimonnier cũng buộc phải dẫn đại đội lính Thái còn lại rút về các mỏm đồi 105 và 106. Cụm Anne Marie bị xóa sổ, các vị trí 105 và 106 bị sáp nhập vào cụm cứ điểm Huguette.
Sân bay chính ở Mường Thanh và sân bay dự bị ở Hồng Cúm là hai điểm tiếp tế trọng yếu cho quân Pháp tại Điện Biên Phủ. Trước và trong thời điểm diễn ra chiến dịch, Không quân Pháp ở Đông Dương cộng với sự tham gia của Mỹ đã đã huy động khoảng 100 máy bay vận tải C-47 Dakota, 16 máy bay vận tải C-82 và C-119, 48 máy bay ném bom B-26 Invander, 8 máy bay ném bom B-24 Privater, 227 máy bay tấn công mặt đất đất (cường kích) các loại F6F Hellcat, F8F Bearcat và F4U Corsair…Trung bình mỗi ngày có gần 100 lần chiếc máy bay vận tải tiếp tế khoảng 200 đến 300 tấn hàng và thả dù khoảng 100 đến 150 tấn cho Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.
Sau khi bị mất các cứ điểm phía Bắc, toàn bộ phần phía Bắc khu Trung tâm của Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ (Tập đoàn quân tác chiến Tây Bắc – GONO) đã phơi mình trước hỏa lực pháo binh của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Riêng sân bay Mường Thanh thì đã nằm hoàn toàn trong tầm bắn thẳng của các loại sơn pháo 75 mm và ĐKZ 75 mm. Các máy bay của quân Pháp đậu trên sân bay lần lượt bị bắn hỏng. Đường băng ghi sắt bị đạn pháo xới tung. Cái “dạ dày” của Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ thủng lỗ chỗ như mắt sàng.
Sách báo và các tài liệu lịch sử từ trước đến nay thường chỉ nhắc đến các trận đánh ác liệt diễn ra trên dãy đòi phía Đông (gồm các dãy đồi A, C, D, E) mà ít nhắc đến các trận đánh diễn ra tại các cụm cứ điểm phía Tây gồm các cứ điểm 105, 106, 206, 208, 311A, 311B, Clodine A và Clodine B (thuộc các cụm Huguette và Clodine) cũng như khu vực cánh Bắc của sân bay Mường Thanh. Trong đó, cứ điểm 105 A có vị trí đặc biệt quan trọng vì nó án ngữ ngay ở đầu Bắc của sân bay Mường Thanh.
Đến giai đoạn 2 của chiến dịch, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã chuyển toàn bộ phương án tác chiến sang “đánh chắc, tiến chắc” lấy chiến thuật “vây lấn” làm chiến thuật chủ yếu. Để thực hiện thành công chiến thuật này, có ba nhiệm vụ cần làm liên tục. Một là đào các đường hào trục, hào nhánh, các vị trí hỏa lực, các hầm chỉ huy, hầm bệnh xá .v.v… vây quanh GONO. Hai là khống chế vùng trời. Nhiệm vụ này đã có các khẩu đội pháo cao xạ của Trung đoàn 367 giờ đây đã có thể bổ trí trận địa ngay trên phía Bắc cánh đồng quanh các cụm cứ điểm Him Lam, Độc Lập và Bản Kéo mà ta vừa giành được.
Tuy nhiên, bất chấp hỏa lực phòng không của pháo binh ta, một số máy bay của quân Pháp vẫn hạ cánh xuống sân bay Mường Thanh. Pháo binh ta được lệnh không bắn vào các máy bay mang dấu hiệu chữ thập đỏ nhưng chính quân Pháp lại lợi dụng các máy bay này để chở vũ khí, đạn dược tiếp tế cho GONNO. Vì vậy, vấn đề quyết định kết cục của cuộc chiến là phải cắt đứt cái “dạ dày” của Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ: Sân bay Mường Thanh.
Trong các trận đánh kéo dài suốt nửa đầu tháng 4-1954, quân Pháp đã tổ chức ba cuộc phản công lớn và hàng chục đợt phản kích nhằm giành giật cứ điểm 105 với Quân đội Nhân dân Việt Nam. Ngọn đồi này đã không dưới ba lần được “đổi chủ”. Đến ngày 18-4-1954, Trung đoàn 165 (F312) và Trung đoàn 36 (F308) sau khi đánh bật nhiều đợt phản công, phản kích của quân Pháp, diệt 5 xe tăng đã vĩnh viễn làm chủ cứ điểm 105. Cả hai đơn vị này đã đào các đường giao thong hào vòng trong cắt đôi sân bay Mường Thanh. Đến ngày 20-4-1954, sân bay Mường Thanh đã trở thành một “sân bay chết”. Từ ngày này, Bộ Tư lệnh các lực lượng viễn chinh Pháp ở Bắc Đông Dương chỉ còn có thể tiếp tế cho GONO bằng dù hàng thả từ các máy bay vận tải. Số phận của GONO coi như đã được định đoạt.
Nhà sử học người Pháp Georges Boudarel đã ghi nhận trong cuốn sách “Võ Nguyên Giáp” rằng: “Những đường hào tiến từ trên núi cao bao quanh xuống chia cắt lòng chảo Mường Thanh tạo nên những vùng song song đều đặn như những luống cày. Những hầm hào này tỏa ra rồi chụm lại tạo nên vòng vây nghiệt ngã. Lính Pháp ra sức chống trả nhưng vô ích. Họ bịt kín các đường hào ban ngày thì đêm bộ đội Việt Minh lại đào. Cứ thế trận địa chiến hào của bộ đội Việt Minh giống như cái dây thòng lọng mỗi ngày lại thít chặt vào cổ quân Pháp đồn trú ở Điện Biên Phủ”.
Với lưới lửa phòng không dày đặc ở Điện Biên Phủ, không chỉ các máy bay vận tải của Pháp như Douglas C-47, Packet C-82, C-119 Flying Boxcar do phi công Mỹ điều khiển bị bắn hạ mà cả các máy bay cường kích, ném bom các kiểu F6F Hellcat, F8F Bearcat, DB-73 Havoc, B-26 Invader và “giặc 5 đầu” B-24 Privater cũng chịu chung số phận. Trong giai đoạn cuối của chiến dịch, các máy bay Pháp không thể thả dù chính xác xuống các vị trí của quân Pháp ở Điện Biên Phủ do sợ trúng đạn pháo phòng không. Hơn 2/3 số dù hàng, bao gồm cả hòm hàng đặc biệt chứa quân hàm Tướng 1 sao (Chuẩn tướng) của De Castries và lá thư chúc mừng của vợ ông ta đã rơi sang trận địa của Quân đội Nhân dân Việt Nam.
Nhằm chặn đứng các nguồn tiếp tế của quân Pháp cho Điện Biên Phủ. Từ tháng 3 năm 1954, Quân đội Nhân dân Việt Nam đã tổ chức các trận tấn công tập kích các sân bay của Pháp ở Bắc Đông Dương. Ngày 4-3-1954, 16 chiến sĩ và 3 du kích thuộc Đại đội 8, Tiểu đoàn 108, bộ đội địa phương Liên khu III tấn công sân bay Gia Lâm, 18 máy bay các loại và hàng trăm tấn xăng dầu của không quân Pháp bị đốt cháy (theo tài liệu lưu trữ của Thư viện Quốc gia Việt Nam – Báo Nhân Dân, số 117 ra ngày 11-4-1954). Đêm 6 rạng ngày 7-3-1954, 32 chiến sĩ bộ đội địa phương của Tỉnh đội Hải – Kiến bất ngờ tập kích sân bay Cát Bi, phá hủy 59 máy bay và nhiều phương tiện vũ khí của quân Pháp. Hai trận đánh vào chính nơi xuất phát của không quân Pháp yểm hộ cho lực lượng mặt đất ở Điện Biên Phủ đã làm suy giảm một phần sự tiếp tế của quân Pháp cho Điện Biên Phủ. Để thực hiện các phi vụ ném bom, quân đội Pháp đã phải huy động các máy bay cất cánh từ tàu sân bay USS Saipan CVL-48 (thuê của Mỹ) đậu trên Vịnh Hạ Long với sức tải và thời gian có mặt trên không phận Điện biên Phủ thua kém rất nhiều so với các máy bay cất cánh từ Gia Lâm và Cát Bi.
2- Chiến công của những đôi vai và năng lực tổ chức hậu cần mặt trận.
Ngay từ cuối năm 1953, Quân ủy Trung ương đã thành lập Hội đồng cung cấp chiến dịch Điện Biên Phủ do Phó thủ tướng Phạm văn Đồng làm Chủ tịch, Tổng thanh tra chính phủ Nguyễn Văn Trân làm Phó chủ tịch. Ở các tỉnh và liên khu cũng thành lập các Hội đồng cung cấp mặt trận của Liên khu và của tỉnh. Công tác hậu cần chiến dịch lần đầu tiên được ta phân chia thành hai tuyến: tuyến hậu phương và tuyền chiến dịch. Theo tính toán ban đầu với phương châm “đánh nhanh, giải quyết nhanh”, nhu cầu bảo đảm vật chất dự kiến là 434 tấn đạn, 1.730 tấn gạo, 140 tấn muối, 465 tấn thực phẩm khô. Tuy nhiên, khi ta chuyển sang phương án “đánh chắc, tiến chắc” thì nhu cầu cung cấp đã tăng lên ít nhất là gấp ba lần. Riêng về gạo cần tới trên 20.000 tấn, gấp 5 làn so với tính toán ban đầu. Đây là một thách thức rất lớn đối với ta vì điều kiện lúc đó cực kỳ khó khăn, ta chưa bao giờ huy động và vận chuyển một khối lượng vật chất lớn như vậy tới một chiến trường rừng núi mà đường giao thông lớn hầu như không có.
Tây Bắc Bắc Bộ có địa hình phổ biến là núi cao và hiểm trở nhất nước ta. Phía Đông là dãy núi Hoàng Liên Sơn đồ sộ được giới hạn từ biên giới Việt-Trung tới khúc công lớn của sông Đà, có đỉnh Phansipan cao 3.143 m. Phía Tây là địa hình núi cao trung bình của các dãy núi chạy dọc biên giới Việt-Lào, từ Khoan La San tới sông Cả (sông Lam). Ở giữa thấp hơn là các dãy núi, các sơn nguyên và các cao nguyên từ Phong Thổ đến Mộc Châu tiếp nối đến những dãy núi đá vôi ở Ninh Bình vào tới Thanh Hóa.… Địa hình bị chia cắt mạnh, nhiều sông suối, hẻm vực, sườn dốc. Do mưa nhiều, độ dốc lớn, vùng này dễ xảy ra các thiên tai như: lũ ống, lũ quét, xói mòn, trượt lở đất… Những điều kiện tự nhiên khắc nghiệt trên gây khó khăn đặc biệt lớn cho giao thông vận tải và vận chuyển hàng hóa giữa Tây Bắc với các vùng khác.
Đường ra mặt trận rất khó khăn, hiểm trở. Phần lớn là đường nhỏ, hẹp, nhiều đoạn sụt lở. Hầu hết cầu cống đều hư hỏng, xe cơ giới không thể di chuyển. Yêu cầu mở rộng, sửa chữa đặt ra rất cấp bách mà công cụ mở đường của ta thì hầu như toàn công cụ thô sơ như búa, choòng, cuốc, xẻng, rìu, thuổng, đẽo.., máy móc hỗ trợ thì gần như không có. Để tăng cường hiệu quả công tác hậu cần chiến dịch, toàn bộ số xe cơ giới của ta ở miền Bắc gồm 16 đại đôi với 628 xe tải các loại được huy động. Tuy nhiên, số lượng xe ít ỏi này còn xa đáp ứng được yêu cầu vận tải cho chiến dịch. Ngoài ra, chúng ta chỉ có xe đạp, xe thô sơ…Đường sông cũng nguy hiểm vì phải ngược dòng qua những vùng hiểm trở, với nhiều thác ghềnh có độ dốc lớn.
Bộ tham mưu của tướng Henry Navarre, với những thông tin tình báo do Phòng Nhì (Deuxième Bureau) cũng cấp đã nắm tương đối rõ thực lực hậu cần của ta. Tướng René Cogny, Tư lệnh quân Pháp ở Bắc Bộ cho rằng Việt Minh không thể duy trì ở thượng du Tây Bắc quá 2 đại đoàn và 20.000 dân công, sự bấp bênh về giao thông không cho phép họ mang tới đó pháo lớn có cỡ nòng trên 75 mm cùng với số đạn pháo được dự trữ vượt quá 7 ngày chiến đấu. Viên sỹ quan tùy tùng của tướng Henry Navarre còn làm một phép tính chi li rằng: Một dân công xuất phát từ Thái Nguyên để chuyển gạo lên Điện Biên Phủ, anh ta chỉ có thể đem được tối đa 40 kg (không kể hành lý cá nhân) trên đôi vai của mình; anh ta tiêu thụ mỗi ngày ít nhất 0,6kg gạo và mỗi ngày đi bộ được trung bình 20 km; sau 60 ngày đi bộ liên tục, anh ta mới tới được chiến trường và số gạo còn lại chỉ là 4 kg. Quả thật là rất chi tiết, rất hoàn hảo. Tuy nhiên, Việt Minh đã làm được những điều mà không chỉ Bộ Tư lệnh Đông Dương của tướng Henry Navarre ở Soái phủ Nam Kỳ đóng tại Sài Gòn mà ngay cả các tướng lĩnh Pháp giàu kinh nghiệm ở Paris cũng không thể tưởng tượng được.
Chỉ trong một thời gian ngắn, Bộ Tổng chỉ huy Quân đội Nhân dân Việt Nam và chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở cá các vùng tự do và địch hậu đã huy động một lực lượng lớn dân công hỏa tuyến gấp 13 lần dự báo của quân Pháp, đóng góp 11 triệu ngày công. Phương tiện vận chuyển gồm có 628 ô tô các loại, 11.800 thuyền, bè, hơn 20.000 nghìn xe đạp thồ cùng hàng nghìn phương tiện vận chuyển thô sơ khác. Vì khả năng vận chuyển, tiếp tế bằng dân công gánh bộ cần huy động nhiều nhân công mà hiệu quả lại cực kỳ thấp. Ttrong chiến dịch Tây Bắc 1942-1953, lương thực từ hậu phương đưa ra mặt trận bằng dân công gánh bộ, tới nơi chỉ còn nộp kho được 8%. Do đó công tác huy động lương thực thực phẩm tại chỗ và sử dụng cơ giới vận chuyển mang lại hiệu quả cao được ta ưu tiên chú trọng.
Tây Bắc tuy là vùng núi cao có rất ít diện tích đất đai để canh tác nhưng không kể cánh đồng Mường Thanh đang bị quân Pháp chiếm đóng; còn lại ba cánh đồng rất màu mỡ là Mường Lò, Mường Than và Mường Tấc vốn là ba trong bốn vựa lúa lớn nhất của vùng này. Vì vậy, Hội đồng Cung cấp chiến dịch dự định huy động tại Tây Bắc khoảng 6.000 tấn lương thực. Số lương thực này nếu đưa từ xa tới sẽ phải huy động nhiều gấp ba, bốn lần. Trên thực tế, đồng bào các dân tộc ở Tây Bắc đã nhiệt tình ủng hộ cách mạng vượt mức kế hoạch với hơn 7.000 tấn gạo, gần 400 tấn thịt. Số lương thực thực phẩm quí báu đó đã góp phần không nhỏ làm lên thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ.
Về vấn đề vận chuyển vũ khí, đạn dược, quân trang, quân dụng và nhu yếu phẩm vào chiến dịch là vấn đề nan giải nhất. Ta tích cực sửa sang và mở rộng những tuyến đường vận tải quan trọng không những để chạy xe vận tải mà còn để kéo pháo vào chiến dịch. Nhờ có tầm nhìn xa trông rộng nên từ trước đó ta đã khôi phục và mở rộng 4.500 km đường, trong đó có trên 2.000 km cho xe cơ giới hạng trung có thể hoạt động được. Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, trên chiến trường Mianma, quân đội Anh với những máy móc và phương tiện xây dựng hiện đại đã phải mất tới 18 tháng mới xây dựng một con đường dài 190 km trong điều kiện không bị đối phương cản trở. Còn chúng ta chỉ có chưa tới 6 tháng để xây dựng 160 km đường tiếp vận dành cho cơ giới ngay tại mặt trận dưới sự đánh phá thường xuyên của không quân Pháp mà trong tay chỉ có những công cụ thô sơ nhất cùng với những khối mìn phá đá. Việc xây dựng hầu như chỉ sử dụng sức người với sức mạnh tinh thần và lòng quyết tâm lớn lao.
Bên cạnh công tác vận tải bằng cơ giới, để tăng thêm hiệu quả và hạn chế thiệt hại do không quân Pháp đánh phá và đưa hàng tới những điểm mà xe cơ giới không thể tới được, ta đã huy động vào chiến dịch hậu cần khổng lồ này cả những phương tiện vận tải thô sơ như xe thồ, xe ngựa, xe trâu… Đặc biệt, xe đạp thồ được huy đông tối đa vào chiến dịch với khoảng 20.000 chiếc. Hiệu quả vận chuyển ngày càng được nâng cao. Lúc đỉnh điểm nhiều chiếc xe đạp thồ được tới 300 kg, thậm chí có những chiếc lên tới 337 kg như xe của các anh Cao Văn Tý và Ma Văn Thắng (quê ở Phú Thọ) hiện đang được trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử quân sự Việt Nam. Chính phương tiện vận chuyển này đã gây nên bất ngờ lớn với quân Pháp, máy bay và pháo binh của Pháp có thể phá được đường lớn và ngăn chặn cơ giới của ta nhưng họ không thể ngăn hàng chục nghìn phương tiện thô sơ của ta ngày đêm tải hàng ra chiến trường.
Sông suối Tây Bắc rất hiểm trở với nhiều thác ghềnh, lòng sông nhiều đoạn rất nhỏ và nhiều đá ngầm gây khó khăn lớn cho thuyền bè qua lại. Khắc phục khó khăn, bộ đội ta đã tích cực bạt đá, phá ghềnh, khai thông dòng sông Nậm Na qua thị xã Lai Châu. Hiệu suất vận chuyển và tần suất các chuyến vận chuyển được tăng cường. Riêng ở trên các tuyến thủy lộ, chỉ trong một thời gian ngắn ta đã vận chuyển ra chiến trường được hơn 1.700 tấn gạo.
Trong chiến đấu, công tác Quân y là lĩnh vực tối quan trọng, không chỉ ảnh hưởng tới tinh thần chiến đấu, tới sức chiến đấu của bộ đội mà còn ảnh hưởng đến chính sách thương binh và hậu phương quân đội. Với khẩu hiệu: “Mỗi ô tô là một bệnh xá lưu động”, các chiến sĩ quân y đã cùng với các chiến sĩ lái xe tận dụng mọi hình thức như lót lá, lót rơm, làm cáng để vận chuyển thương binh về phía sau một cách an toàn. Các thầy thuốc nổi tiếng như bác sĩ, Bộ trưởng Bộ Y tế Vũ Đình Tụng, bác sĩ Thứ trưởng Bộ y tế Tôn Thất Tùng cũng tham gia chiến dịch và trực tiếp phẫu thuật cho thương binh ngay tại mặt trận. Bác sĩ Đặng Văn Ngữ đã chế ra “nước lọc Penicciline” chiết xuất và nuôi cấy men kháng sinh từ nước ép cây ngô, góp phần giải quyết vấn đề thuốc kháng sinh, sát trùng cho bộ đội. Đặc biệt, các đội quân y trung đoàn, tiểu đoàn đã bám sát trận địa , xây dựng hệ thống trạm quân y trong lòng đất để cứu chữa thương bệnh binh
Bản báo cáo tổng kết công tác hậu cần chiến dịch Điện Biên Phủ của Bộ Tổng tham mưu Quân đội Nhân dân Việt Nam nêu rõ:
– Tổng khối lượng cung cấp cho chiến dịch đạt 30.759 tấn, trong đó tiêu thụ hết 19.989 tấn. Khối lượng vận chuyển trong chiến dịch Điện Biên Phủ đạt 4.450.000 tấn/km.
– Lực lượng hậu cần quân đội: Huy động 3.168 người phân bố trong 4 tiểu đoàn công binh mở đường, 2 đại đội thông tin, 7 đội điều trị, 16 đại đội vận tải ô tô gồm 446 xe, 1 binh trạm có 18 xe và các trạm điều phối giao thông, các kho quân nhu, quân khí…
– Lực lượng dân công: Huy động 261.453 người đóng góp gần 11 triệu ngày công, 20.991 xe đạp thồ, khoảng 11.800 bè mảng, hơn 7.000 xe cút kít, 1.800 xe trâu, bò kéo các loại, 325 xe ngựa và hơn 500 ngựa thồ.
– Lương thực, thực phẩm cung cấp cho chiến dịch: Huy động 25.056 tấn gạo, 907 tấn thịt, 917 tấn các loại thực phẩm khác, 258 tấn muối, 1.860 lít nước mắm và 280 kg mỡ.
– Cung cấp quân trang, quân y: Huy động 71 tấn quân trang, 1.783 tấn xăng dầu; 55 tấn thuốc và dụng cụ quân y. Điều trị cho 10.130 thương binh và bệnh binh, 4.489 bệnh binh, (chưa kể số thương-bệnh binh của quân Pháp do ta bắt làm tù binh khoảng hơn 1.500 người).
– Về vũ khí, đạn dược và các phương tiện phục vụ chiến đấu: Hơn 3 triệu viên đạn các loại, 96.480 quả lựu đạn, 27,5 tấn thuốc nổ, 4.950 chiếc cuốc, hơn 8.700 chiếc xẻng, 2.920 con dao.
Lịch sử thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ là lịch sử của cuộc Chiến tranh Nhân dân trên phạm vi cả nước, trong đó hoạt động hậu cần là một minh chứng rõ rệt nhất. Trong số gần 5.000 liệt sĩ (bao gồm cả những người mất tích) đã hy sinh trong chiến dịch Điện Biên Phủ, có không ít người làm công tác hậu cần và dân công hỏa tuyến. Họ đã góp phần xương máu làm nên kỳ tích, bảo đảm hậu cần cho hơn 50.000 người trực tiếp tham gia chiến đấu. Trong chiến thắng Điện Biên Phủ vĩ đại và oanh liệt của dân tộc, chiến thắng trên mặt trận hậu cần chiến dịch cũng là cả một kỳ tích.
Công tác hậu cần của chiến dịch Điện Biên Phủ Để còn để lại nhiều bài học quí báu như kinh nghiệm mở đường và vận chuyển vũ khí, hàng hóa qua các khu vực địa hình rừng núi hiểm trở, đường vận chuyển kéo dài, bị địch đánh phá … Tất cả những kinh nghiệm đó đã được ta vận dụng sáng tạo và rất có hiệu quả trong Kháng chiến chống Mỹ sau này, góp phần hình thành lên tuyến đường vận chuyển 559 Trường Sơn huyền thoại, đưa cuộc Kháng chiến chống Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn, thu non sông về một mối.
Khi biết đến những nỗ lực phi thường của người Việt Nam trong việc cung cấp cho mặt trận Điện Biên Phủ, đại tướng Paul Esly, người thay thế tướng Henry Navarre sau thất bại của quân Pháp ở Điện biên Phủ đã phải ghi nhận trong tác phẩm “Mắt thấy tai nghe ở Đông Dương”:
“Than ôi ! Các máy bay hiện đại của chúng ta đã thua những đôi bồ của dân công Việt Minh. Một lần nữa, kỹ thuật lại bị thua bởi những con người có tâm hồn và có một niềm tin vào chiến thắng”.
Còn nhà báo Pháp Jules Roy, nguyên đại tá quân đội Pháp thì khẳng định trong cuốn “Trận Điện Biên Phủ dưới con mắt người Pháp” của ông: “Không phải viện trợ của Trung Quốc đã đánh bại tướng Navarre mà chính là những chiếc xe đạp mang nhãn hiệu Peugeot của Pháp thồ từ 200 tới trên 300 kg hàng hóa và đẩy bằng sức người. Những con người ăn chưa đủ no và ngủ thì nằm trên những tấm nilon được trải ngay xuống mặt đất. Cái đã đánh bại tướng Navarre không phải bởi các phương tiện mà là sự thông minh và ý chí của đối phương…”
Nhà sử học Pháp Bernard Fall trong cuốn “Việt Minh 1945-1960” (Le Viet Minh 1945-1960) đã nói về thắng lợi của Việt Nam ở Điện Biên Phủ rằng: “Trước hết và trên hết là những chiến thắng về tổ chức tiếp vận. Đó thực sự là chiến thắng của những chiếc xe đạp thồ trước các máy bay vận tải hiện đại”.
3- Người Mỹ tính dùng bom nguyên tử ở Điện Biên Phủ như thế nào:
Ngay khi Quân đội Nhân dân Việt Nam mở màn chiến dịch Điện Biên Phủ, nhiều quan chức và tướng lĩnh Pháp đã cảm thấy tình hình không ổn. Chỉ hơn một tháng sau, quân Pháp ở Điện Biên Phủ đã rơi vào thế tuyệt vọng. Người Pháp đã phải cầu cứu người Mỹ, mong lật ngược tình thế, thủ hòa hoặc ít nhất là có vị thế nhất định trên bàn đàm phán ở Genève. Ngày 20-3-1954, Tướng Paul Ély, Tổng tham mưu trưởng quân đội Pháp, người sau này phải thay thế tướng Henry Navvare đã tới Washington để cầu cứu sự giúp đỡ của Mỹ. Phía Pháp muốn tổ chức một cuộc ném bom ồ ạt xung quanh Điện Biên Phủ cũng như được Mỹ tăng cường viện trợ bổ sung về quân sự.
Các nhà sử học Pháp Philippe Devillère và Jean Lacouture trong cuốn “Kết cục của một cuộc chiến tranh” cho biết: Ngày 29-3-1954, tướng Henry Narvarre, Tổng tư lệnh các lực lượng viễn chinh Pháp tại Đông Dương đã viết rằng số phận của Điện Biên Phủ phụ thuộc vào việc tiếp tế bằng dù và rút lui bằng đường không. Henry Navarre cũng nhấn mạnh sự cần thiết phải tăng cường sử dụng không quân đánh phá hậu phương của Việt Minh, phá hủy đường giao thông và kho tàng để ngăn chặn tiếp vận. Ông ta đề xuất ném bom rải thảm để tạo nên một vành đai tử thần quanh tập đoàn cứ điểm, làm bộ lộ các vị trí của Việt Minh. Henry Navarre coi đó là cách duy nhất để tránh thảm họa thất trận hoặc thế thua trong đàm phán về hòa bình ở Đông Dương. Ông ta cũng tin rằng sự can thiệp của Mỹ bằng không quân sẽ vô hiệu hóa được hỏa lực pháo binh và cao xạ của Quân đội Nhân dân Việt Nam và ghìm chân bộ binh ta. Đáp lại đề nghị trên, Cao ủy Pháp ở Đông Dương De Jean cũng đã kêu gọi Mỹ chi viện. Ông này còn tiếp xúc với đại diện Mỹ tại Sài Gòn để yêu cầu cung cấp máy bay như họ đã hứa gồm máy bay ném bom, máy bay cường kích và máy bay vận tải. Đầu tháng 4-1954, tướng Henry Navarre lặp lại yêu cầu được Mỹ tiến hành chiến dịch giải cứu bằng không quân. Chính phủ Pháp cũng cùng quan điểm này.
Người Mỹ từ lâu đã xác định được tầm quan trọng đặc biệt về địa chính trị và kinh tế của Đông Nam Á, một khu vực có nguồn nguyên liệu, nhân lực và thị trường tiêu thụ cho thế giới tư bản phương Tây và cho Nhật Bản, đồng minh quan trọng được Mỹ vực dậy sáu Chiến tranh thế giới thứ hai để làm đối trọng với Liên Xô và Trung Quốc. Việt Nam là trọng tâm của Đông Dương, mà Đông Dương là chìa khóa của toàn vùng Đông Nam Á. Với Học thuyết Domino của tổng thống Mỹ Dwight David Eisenhower, Mỹ rất lo sợ làn sóng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản lan ra toàn vùng này. Trước đó, ngày 6-3-1954, Hội đồng An ninh Quốc gia Mỹ đã đưa ra kiến nghị rằng nước này phải tiến hành mọi biện pháp trong tầm tay để ngăn chặn “cộng sản” kiểm soát vùng Đông Nam Á vì việc mất vùng này sẽ gây ra những hậu quả khôn lường. Tối 29-3 tại New York, Ngoại trưởng Mỹ John Foster Dulles còn có bài phát biểu gây xôn xao giới chính trị và ngoại giao khi ông lên giọng phê phán sự hỗ trợ của phe xã hội chủ nghĩa cho Việt Minh. Viện dẫn chiến cuộc Triều Tiên, ông ta khẳng định Mỹ sẽ chủ động hành động để đối phó với tình hình, hàm ý sự can thiệp của Mỹ.
Trên thực tế Mỹ đã “nhảy” vào Đông Dương bằng nhiều hình thức. Mỹ chi tới 80% chiến phí cho Pháp ở Đông Dương. Trong trận Điện Biên Phủ, Mỹ còn tham gia hỗ trợ Pháp bằng cả máy bay và phi công trong tiếp vận và ném bom. Hai phi công Mỹ McGovern và Buford chết trong trận Điện Biên Phủ được coi là những người lính Mỹ đầu tiên chết trong chiến đấu tại Việt Nam. Điều đặc biệt đáng sợ là cả Pháp và Mỹ đã xúc tiến xây dựng kế hoạch có tên “Chiến dịch Chim kền kền” (Operation Vautour) để giải vây quân Pháp tại Điện Biên Phủ, hoặc chí ít cũng tạo một tình thế có lợi cho Pháp tại đây. Đầu tháng 5-1954, người Pháp đặt mục tiêu đạt được thỏa thuận ngừng bắn giống người Mỹ đã làm ở Triều Tiên để rút lui trong danh dự.
Kế hoạch “Chiến dịch Chim kền kền” được xây dựng bởi các sĩ quan cao cấp của Pháp và Mỹ, đặc biệt là đô đốc Arthur W. Radford, Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân Mỹ cùng bộ phận tham mưu của riêng ông ta. Phó Tổng thống Mỹ khi đó là Richard Nixon cũng nhiệt thành ủng hộ chiến dịch này. Thậm chí Richard Nixon còn ủng hộ cả việc đưa lục quân Mỹ vào Đông Dương. Tổng thống Mỹ là Dwigth D. Eisenhower đã để ngỏ khả năng thực thi chiến dịch. Sau chuyến thăm của tướng Pháp Paul Ély, Dwigth D. Eisenhower từng nói với Ngoại trưởng Mỹ John F. Dulles rằng ông không loại trừ khả năng tung ra “đòn quyết định” nếu điều này chắc chắn đem lại một kết quả khả quan.
Theo nữ tác giả Rebecca Grant trong bài viết đăng trên tạp chí Air Force (Không lực), tướng Paul Ély, Tổng tham mưu trưởng quân đội Pháp đã gặp gỡ với cả Dulles và Radford cùng thảo luận và thông qua Kế hoạch “Chiến dịch Chim kền kền”. Các nguồn tài liệu của Mỹ và phương Tây đã cho biết kế hoạch của phái “diều hâu” Mỹ và Pháp bao gồm việc Mỹ sẽ huy động khoảng 60 máy bay ném bom chiến lược B-29 cất cánh từ các căn cứ Mỹ trong khu vực (như Philippines, Thái Lam) vào ném bom các vị trí của Việt Minh quanh thung lũng Điện Biên Phủ. Mỗi đêm sẽ ném khoảng 450 tấn bom để phá vỡ vòng vây và phá hủy vũ khí của Việt Minh. Một phương án khác là dùng 300 máy bay cường kích để “dọn sạch” khu vực quanh Điện Biên Phủ. Các “siêu pháo đài bay” B-29 này sẽ được hỗ trợ bởi 150 máy bay chiến đấy từ các tàu sân bay của Hạm đội 7 của Hải quân Mỹ). Sở dĩ các tướng Mỹ nêu phương án yểm hộ là do Mỹ lo ngại Không quân Trung Quốc sẽ vào cuộc. Mỹ vốn đặc biệt cảnh giác sau khi bị bất ngờ về việc “Chí nguyện quân Trung Quốc” tham gia Chiến tranh Triều Tiên.
Phương án phiêu lưu nhất của kế hoạch này là khả năng sử dụng tới 3 quả bom hạt nhân cấp chiến thuật có kích cỡ nhỏ nhưng sức tàn phá vẫn rất lớn. Việc tấn công hạt nhân có thể thực hiện bằng máy bay B-29, B-36 và B-47, thậm chí cả máy bay cường kích của hải quân Mỹ. Như vậy, âm mưu của Mỹ dùng vũ khí hạt nhân là hoàn toàn có thật. Ngay từ tháng 1-1954, Ngoại trưởng Mỹ John F. Dulles đã đưa ra khái niệm “trả đũa ồ ạt”. Trong đó Mỹ sẵn sàng đáp trả đối phương ngay lập tức bằng mọi “phương tiện” và tại mọi địa điểm mà Mỹ “lựa chọn”, ám chỉ việc Mỹ đã chuẩn bị dùng đến cả vũ khí hạt nhân. John F. Dulles được cho là đã từng đề nghị tặng riêng cho Pháp 2 quả bom nguyên tử để Pháp tùy ý sử dụng tại Điện Biên Phủ.
Trong và sau Chiến tranh Triều Tiên, phía Mỹ cũng đã có động thái đe dọa sử dụng vũ khí hạt nhân để tấn công Cọng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên và Trung Quốc. Dựa trên các tài liệu giải mật của chính phủ, John Prados, tác giả cuốn sách chuyên khảo về “Chiến dịch Chim kền kền” của Mỹ năm 1954, đã cho độc giả thấy rằng Mỹ đã sẵn sàng ở mức độ nhất định để can thiệp vào Việt Nam tại thời điểm đó bằng cả lục quân và không quân có sử dụng bom nguyên tử cũng như không loại trừ một cuộc chiến tranh mới với Trung Quốc. Sau đó, trong những năm 1960 và năm 1972, Richard Nixon còn tỏ ra hung hăng hơn khi nung nấu quyết tâm dùng bom hạt nhân chiến thuật để đánh bại Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, bất chấp các nguyên tắc về đạo đức. Trên thực tế ông ta đã thành lập vài ban bệ chuyên nghiên cứu về việc này. Việt Nam đã là một trong các mục tiêu hàng đầu cho bom nguyên tử Mỹ sau Nhật Bản.
Người Pháp thì vui mừng ra mặt vì “Chiến dịch Chim kền kền” sắp được khởi sự. Riêng tướng Henry Navarre thì hứng thú nghĩ ra nhiều “sáng kiến” như dùng phi công và máy bay Mỹ nhưng sơn cờ Pháp để chiến dịch có thể tiến hành mà người Mỹ không phải tham chiến về hình thức; hay là tổ chức “ném bom ban đêm, theo từng đợt kế nhau và mỗi đợt không dùng quá số phi cơ mà Pháp huy động được” nhằm che mắt đối phương về sự can thiệp của người Mỹ. Thế nhưng, không bao lâu sau, cả chính phủ Pháp của Josep Laniel lẫn tướng Henry Navarre cùng cánh “Diều hâu” trong Bộ Quốc phòng Pháp và cả người Mỹ sẽ đều thất vọng bởi “Chiến dịch Chim kền kền” chỉ tồn tại trên giấy, không bao giờ được thực thi, dù là các bước chuẩn bị.
Trong bối cảnh quốc tế khi đó Mỹ mới ra khỏi Chiến tranh Triều Tiên với tình thế 5 năm 5 thua nên rất ngại bị lôi kéo sâu vào một cuộc chiến tranh mới. Mỹ cũng ngại sự can thiệp bằng quân sự của Trung Quốc vào Đông Dương có thể tạo ra nguy cơ leo thang đến một cuộc chiến tranh thế giới, thậm chí là chiến tranh hạt nhân với Liên Xô. Ngoài ra Mỹ cũng không tin tưởng nhiều vào khả năng quân sự của Pháp qua thực tế chiến tranh tại Đông Dương. Nội bộ chính giới Mỹ đã bàn thảo rất kỹ về hậu quả trên các mặt chính trị, quân sự của việc can thiệp, về thái độ và khả năng hành động của Trung Quốc và Liên Xô.
Phe diều hâu gồm John F. Dulles và đô đốc William Raford đã thăm dò một cách kỹ lưỡng các nghị sĩ chủ chốt của cả hai đảng Dân chủ và Cộng hòa tại Quốc hội Mỹ. Kết quả nhận được là sự phản đối của các nghị sĩ đối với việc đưa lục quân vào Việt Nam vì hành động đó có thể làm cho Mỹ rơi vào một cuộc chiến tranh nữa giống như ở bán đảo Triều Tiên. Theo các tác giả Pháp Laurent Cesari và Jacques de Folin, bản thân Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân Mỹ William Raford cũng không được các tham mưu trưởng liên quân ủng hộ vì họ cho rằng hoạt động không kích vào một vùng rừng rậm nhiệt đới sẽ không hiệu quả. Riêng Tham mưu trưởng Lục quân Mỹ Matthew Ridgway thì kiên quyết phản đối can thiệp quân sự vào Đông Dương.
Một trở ngại khác là bất đồng giữa Mỹ và Pháp. Trong vấn đề Đông Dương, Pháp có cái nhìn khác Mỹ. Pháp vừa muốn chống cộng, vừa muốn duy trì hệ thống thuộc địa “kiểu cũ” truyền thống của mình. Nhờ Mỹ can thiệp, điều mà Pháp lo ngại nhất sẽ bị mất dần ảnh hưởng ở Đông Dương. Trong khi Pháp cố gạt bất đồng và do dự để tối 4-4-1954, nhanh chóng đưa ra lời đề nghị chính thức với Mỹ và tin rằng chiến dịch can thiệp sẽ không làm chiến tranh lan rộng thì nước Anh lại không ủng hộ. Còn Mỹ thì muốn có hành động tập thể dựa trên một thỏa thuận chính trị với nước Pháp và nhiều nước khác, đặc biệt là Anh.
Trong lúc các bên của giới chính trị và quân sự Mỹ và Pháp đang chưa quyết định thì Việt Minh đã xiết chặt vòng vây quanh Điện Biên Phủ. Từ ngày 16-4-1954, các đơn vị của các đại đoàn 308 và 312 đã tiến đến sát sân bay Mường Thanh. Trên các dãy đồi phía Đông (dãy Pú Hồng Mèo, có nghĩa là “Mặt trời mọc”) Đại đoàn 316 đã áp sát các cứ điểm A1 và C1 sau khi chiếm gần hết cụm cứ điểm Dominique (trừ D1) và 3 trong số 6 cứ điểm của cụm Éliane. Tình huống cài răng lược trên mặt trận khiến cho việc ném bom hạt nhân hay bom thông thường hạng nặng xuống Điện Biên Phủ sẽ gây tổn thất cho cả hai bên tham chiến. Ngoài ra rừng rậm xung quanh và tình hình thời tiết khi ấy cũng làm máy bay Mỹ khó có thể ném bom hiệu quả. Ném bom vào ban đêm được đánh giá là sẽ khó chính xác, còn vào ban ngày thì Mỹ rất lo ngại hỏa lực cao xạ sẽ gây thiệt hại cho các phi công và máy bay Mỹ.
Sau khi cân nhắc toàn bộ tình hình và tham khảo ý kiến từ các bên thuận và chống, Tổng thống Dwigth D. Eisenhower sau khi cân nhắc toàn bộ tình hình đã đi đến kết luận rằng cần chấm dứt bàn thảo cũng như thực hiện “Chiến dịch Chim kền kền”. Giấc mơ giải cứu cho “Tập đoàn tác chiến Tây Bắc” (GONO) ở Điện Biên Phủ của người Pháp mãi mãi vẫn chỉ là giấc mơ. Thế nhưng hầu hết chính giới Pháp đều không biết tới một điều mà người Mỹ đang ấp ủ. Đó là Mỹ đẩy người Pháp ra khỏi Đông Dương để thiết lập một thuộc địa kiểu mới ở đây. Chỉ một năm sau thất bại của người Pháp ở Điện Biên Phủ, người Mỹ đưa Ngô Đình Diệm, một nhân vật do Mỹ đào tạo về miền Nam Việt Nam và vận động cho ông ta giữ chức thủ tướng của cái gọi là Chính phủ Quốc gia Việt Nam. Một cuộc chiến tranh mới tại Đông Dương lại bắt đầu sau Hiệp định Genève 1954.
4- “Không được kéo cờ trắng”.
Có một câu chuyện thú vị về sự đầu hàng của tướng Christian De Castries tại hầm chỉ huy của ông ta trong căn cứ Épervier ở trung tâm Điện Biên Phủ. Đó là việc treo cờ trắng đầu hành khi De Castries đã chỉ còn lại vài ba sĩ quan và binh lính ở bên cạnh mình. Hồi 14h 25’ ngày 7-5-1954, ông ta lệnh cho viên thiếu tá Seguins-Pazzis, tham mưu trưởng của GONO gọi các sỹ quan chỉ huy thân cận nhất gồm trung tá Pierre Langlais, trung tá Marcel Bigeard, trung tá Maurice Lemeunier và thiếu tá Michel Vadot đến hầm chỉ huy GONO.
Trích hồi ký của tướng De Castries :
– De Castries: Tình hình có gì mới không ?
– Pierre Langlais: Tôi đã xem lại các bức không ảnh. Việc phá vây bây giờ sẽ là sự tự sát.
– De Castries: Các bức ảnh đó trông ra sao ?
– Pierre Langlais: Nó cho thấy ba tuyến chiến hào mới của quân Việt đã tiếp cận Junon.
– Marcel Bigeard: Không chỉ quân Việt sắp đến mà lính của ta cũng đã kiệt lực rồi.
– De Castries: Như vậy là hy vọng vào Albatross cũng tiêu tan (Albatross là kế hoạch phá vây rút chạy sang Lào của GONO – TMN).
– Pierre Langlais: Không hẳn như vậy. Đơn vị của của trung tá Lalande vẫn có thể phá vây (Trung tá André Lalande là chỉ huy trưởng Phân khu Nam ở Hồng Cúm – TMN). Tôi nói chuyện với anh ta trước đó và anh ta đồng ý… Tướng quân hãy ra lệnh ngừng bắn ngay bây giờ.
– De Castries: Được. Để tôi liên lạc với tướng Cogny đã.
– Pierre Langlais: Đừng ! Thưa tướng quân. Ông ta không thể làm được chuyện gì khác hơn là những gì ông ta đã làm. Ngoài ra, chúng ta kh̀ông còn thì giờ nữa. Chúng ta càng chần chừ, binh lính càng thương vong thêm. Thương binh của cần được săn sóc y tế khẩn cấp. Chúng ta phải báo cho ông Giáp là chúng ta sẽ ngừng kháng cự lúc 17h 30’.
– De Castries: Được rồi ! Chúng ta sẽ ra lệnh các chỉ huy trưởng ngừng bắn lúc 17h 30’. Còn Bigeard, anh phải rời khỏi đây cùng với Lalande. Tôi không nghĩ quân Việt sẽ để anh sống sót nếu họ bắt được anh.
– Marcel Bigeard: Cảm ơn tướng quân. Nhưng chuyện đó không cần thiết. Tôi muốn ở lại với binh lính của tôi.
De Castries cho mọi người ra về và yêu cầu trung tá Pierre Langlais ở lại để ông ta nói chuyện riêng.
– De Castries: Tôi xin lỗi vì đã để cho chúng ta phải ra nông nỗi này.
– Pierre Langlais: Tôi nghĩ chuyện đó không có gì lạ.
– De Castries: Và chúng ta cũng đã làm hết sức mình.
– Piere Langlais: Hẳn là như vậy rồi. Thưa tướng quân.
– De Castries: Tôi không đổ lỗi thảm họa này cho bất cứ ai. Là người chỉ huy binh đoàn GONO, tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm.
– Pierre Langlais: Đó không phải lỗi của tướng quân. Chúng ta đều biết kế hoạch này đã có nguy cơ thất bai ngay từ đầu. Nếu lịch sử muốn đổ lỗi cho ai đó thì hãy để Henry Navarre nhận lỗi.
– De Castries: Đồng ý ! Nhưng đó cũng là lỗi của tôi vì tôi đã tự cho phép mình chia sẻ cái ảo tưởng của ông ấy.
– Pierre Langlais: Không riêng gì tướng quân mà bất kỳ ai được chọn cho việc này đều làm điều tương tự. Thậm chí có thể họ làm còn tệ hơn tướng quân nữa. Thêm vào đó, khó ai có thể tiên đoán được khả năng của Việt Minh.
– De Castries: Cảm ơn về sự tử tế của anh. Tôi chỉ thấy tội nghiệp cho binh sĩ của mình.
– Pierre Langlais: Tôi cũng vậy. Để tôi đi nói cho họ biết là mọi chuyện coi như đã kết thúc rồi.
15h 30’ cùng ngày, Pierre Langlais và Seguins-Pazzis đã truyền đạt mệnh lệnh ngừng chống cự đến các đơn vị còn sót lại và quay lại hầm chỉ huy. De Castries lệnh cho trung sĩ thông tin Maximilien mở máy cho ông ta nói chuyện với Hà Nội. Phía đầu cầu Hà Nội có tướng Pierre Bodet, tham mưu trưởng không quân của tướng Henry Navarre đang chờ. Trích băng ghi âm cuộc điện đàm cuối cùng giữa GONO và Hà Nội lúc 15h 45’ ngày 7-5-1954:
– Pierre Bodet: Tình hình trên đó ra sao rồi ?
– De Castries: Chúng tôi đang bị tràn ngập. Ba cứ điểm ở phía đông sông Nậm Rốm (ám chỉ A1, C1 và C2 – TMN) đã bị chiếm. Bọn họ đang bắn chúng tôi bằng các dàn “Organ của Stalin” («Organ của Stalin» là biệt hiệu mà quân phát xít Đức dùng để chỉ dàn hỏa tiễn Katyusha nổi tiếng – TMN).
– Pierre Bodet: Hãy để cho trận chiến tự nó lụi tàn. Nếu Lalande muốn tiếp tục Albatross, hãy cho phép hắn làm việc đó. Anh đã làm một việc tuyệt vời. Chúng tôi sẽ không làm anh thất vọng.
– De Castries: Không làm tôi thất vọng ? Vậy mấy tiểu đoàn mà các anh hứa sẽ gửi cho chúng tôi đâu rồi ? Vả lại, binh lính của tôi bị thương quá nhiều. Họ rất cần được chăm sóc y tế. Tôi sẽ yêu cầu quân Việt để cho máy bay mang chữ thập đỏ thả dù thuốc men cho những người bị thương.
– Pierre Bodet: Quân Việt sẵn sàng nói chuyện với anh sao ?
– De Castries: Không có gì lạ. Ngay từ những ngày đầu họ đã đồng ý để chúng tôi đón các binh sĩ ta bị thương cùng vận chuyển tử sĩ ở Beatrice và Gabrielle về. Tôi sẽ phái người mang cờ trắng sang để nói chuyện với chỉ huy trưởng của họ.
Ở Hà Nội, khi nghe được câu cuối nội dung đàm thoại giữa De Castries và Pierre Bodet, tướng René Cogny vội vồ lấy ống tổ hợp điện đàm và nói rất to :
– René Cogny: Anh nói cái gì về cờ trắng đấy ?
– De Castries: Vâng. Thưa trung tướng, tôi sẽ nói chuyện với họ.
– René Cogny: Anh bạn già thân mến ơi ! Đương nhiên là chuyện này phải chấm dứt, nhưng không phải dưới hình thức đầu hàng. Không cờ trắng ! Không đầu hàng ! Điều đó sẽ làm hỏng cả những thành tích huy hoàng mà anh đã làm được.
– De Castries: (Im lặng).
– René Cogny : Anh bạn già ! Anh không được đầu hàng. Chuyện đó bị cấm. Tôi có một mảnh giấy ở đây và tôi không được uỷ quyền cho phép anh đầu hàng.
– De Castries: Thưa trung tướng, tôi chỉ muốn giữ lại mạng sống cho những người bị thương.
– René Congy: Anh đã rất có gắng ! Nhưng không được giơ cờ trắng ? Anh hiểu không ? Anh bạn già ?
– De Castries: Tôi hiểu. Thưa trung tướng. Vĩnh biệt.
– René Cogny: Tốt ! Hãy để cho ngọn lửa của cuộc chiến tự lụi tàn. Vĩnh biệt anh bạn già.
Trung sĩ Marximilien nói nhanh: “Tôi phá hủy điện đài đây. Quân Việt chỉ còn cách nơi đây vài mét”. Và anh ta ngắt nguồn điện rồi lấy ghế sắt đập nát máy truyền tin.
Đúng 17h 30’ ngày 7-5-1954, toán chiến sĩ gồm chỉ huy Tạ Quốc Luật, đại đội trưởng Đại đội 360, Tiểu đoàn 130, Trung đoàn 209, Đại đoàn 312 Quân đội nhân dân Việt Nam, Hoàng Đăng Vinh, Bùi Văn Nhỏ, Đàu văn Hiếu và Nguyễn Văn Lam đã có mặt ngay trước cửa hầm chỉ huy GONO. Ít phút sau, tướng De Casstries cùng toàn bộ ban tham mưu và các chỉ huy cao cấp của GONO đã bị bắt sống và dẫn giải về trại tù binh. Toàn bộ lòng chảo Điện Biên Phủ tràn ngập một màu cờ trắng, trừ lá cờ đỏ sao vàng mang dòng chữ “Quyết chiến Quyết thắng” đã được cắm lên nóc hầm chỉ huy GONO. Việc này thì mọi người đều đã quá biết.
Ảnh 1: Mệnh lệnh tổng công kích vào Tập đoàn Điện Biên Phủ của Đại tướng Võ Nguyên Giáp.
Ảnh 2: Mũi đột kích của E86, F315 vào cứ điểm C1.
Ảnh 3: Khẩu đội trung liên FM chi viện hỏa lực đánh chiếm cứ điểm E1.
Ảnh 4: Mũi đột kích của E36, F308 tràn qua sân bay Mường Thanh.
Ảnh 5: Máy bay của quân Pháp bị phá hủy tại sân bay Mường Thanh.
Ảnh 6: Mũi đột kích của E102 (Trung đoàn Thủ đô), F308 vào cứ điểm 310.
Ảnh 7: Trận tấn công lần cuối cùng của E174, F316 lên Cứ điểm A1 mở màn cho cuộc Tổng công kích đánh bại hoàn toàn quân Pháp ở Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.
Ảnh 8: Phất cao cờ Quyết chiến Quyết thắng trên cứ điểm A1.
Ảnh 9: Mũi đột kích của E209, F312 vào trung tâm Mường Thanh.
Ảnh 10: Băng qua cầu Mường Thanh, tiếp cận Sở chỉ huy của tướng De Castries.
Ảnh 11: Cắm cờ “Quyết chiến Quyết thắng” lên nóc chỉ huy sở của GONO.
Ảnh 12: Tướng De Castries và toàn ban tham mưu cùng các sĩ quan chỉ huy cao cấp của GONO đầu hàng Quân đội Nhân dân Việt Nam.
Ảnh 13: Khắp nơi ở Điện Biên Phủ, quân Pháp hạ vũ khí đầu hang.
Ảnh 14: Lính Pháp đầu hàng đi qua cầu Mường Thanh.
Ảnh 15: Hơn 11.000 tù binh của quân Pháp bị Quân đội Nhân dân Việt Nam áp giải về trại giam. Cảnh tượng này làm người ta nhớ lại việc hơn 100.000 tù binh phát xít Đức bị dẫn giải qua Moskva ngày 17-7-1944.
Ảnh 16: Quân đội Nhân dân Việt Nam diễu hành chiến thắng tại Điện Biên Phủ trên các xe tăng chiến lợi phẩm.
Ảnh 17: Giành cho những người chiến thắng: Huy hiệu “Chiến sĩ Điện Biên Phủ”
KỲ IV: HẬU ĐIỆN BIÊN PHỦ, NGƯỜI PHÁP ĐI TÌM KẺ GIƠ ĐẦU CHỊU BÁNG.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *